Showing posts with label đồng nát. Show all posts
Showing posts with label đồng nát. Show all posts

Monday, April 7, 2014

Câu chuyện về một nhà thơ


Những điều tôi note cho mình.

1. Dẫu có dẫn link, tôi sẽ copy hết các thứ về. Vì chẳng biết ngày mai thế nào với những website ấy (như một vài link đưa ở dưới, broken hết cả rồi).

2. Trước tôi chỉ biết chuyện Nhân văn giai phẩm ở miền Bắc. Văn chương Sài Gòn giai đoạn ấy gần như tuyệt chủng đối với tôi. Nhưng cũng như nhạc Trịnh của những năm tháng ấy, tôi tin văn chương thời này có nhiều thứ dành cho mình.

3. Cuộc đời của một 'nhà thơ' kết thúc vậy đấy.

4. Cảm ơn những người vẫn bướng bỉnh đi đến tận cùng, chẳng vì gì cả.

---
Câu chuyện bắt đầu từ một blog tôi đọc, đầu tháng Tư, thấy post Ai nhớ ngàn năm một ngón tay.

Đọc xong bài thơ thì tiện thể, tôi lần đọc hết tag 'poetry' ở blog ấy. Thế là đọc được Ngày Tháng Năm của Lâm Vị Thủy.

Tên quá lạ, ko thể ko Google.

Rốt cục tôi kiếm ra mấy câu chuyện dài dòng dưới đây.

---
Lâm Vị Thủy: Nhà thơ giữa cõi không cùng
Trần Hoài Thư
Nguồn: BLOG TRẦN HOÀI THƯ


Tôi dẫn tôi vào trong lớp học

Mây lên màu trắng áo thiên thần
Bàn tay e ấp trên trang sách
Trông dáng ai mà thương cố nhân                                   Lâm Vị Thủy

(28-12-2011): Đã một tháng trôi qua,  kể từ sau khi chúng tôi post bài viết về nhà thơ Lâm Vị Thủy cùng lời kêu gọi bạn đọc nếu hay biết gì về nhà thơ này xin vui lòng tin cho chúng tôi được rõ thêm, thì hôm nay chúng tôi  nhận được một điện thư của một cựu học sinh trường trung học Chân Phước Liêm – trường mà nhà thơ Lâm Vị Thủy đã từng dạy, với một số tin tức về tiểu sử của nhà thơ LVT mà chúng tôi mong muốn..Chúng tôi xin chân thành cảm tạ người bạn không quen về việc sốt sắng giúp đỡ, và xin được post lại bài viết, sau khi nhuận sắc và cập nhật.

Lâm Vị Thủy sinh vào ngày 28-4-1937 mất ngày 21 tháng 7 năm 2002. Lập gia đình được 2 gái 3 trai. 
Giáo sư Việt Văn tại một số trường tư thục tại Sài Gòn.
Viết văn, làm thơ. Thường xuất hiện trên tạp chí Phổ Thông.
Trong nhóm Tao Đàn Bạch Nga.
Sau năm 1975 có thời gian ở tù trong khám Chí Hòa.
Ra tù trải qua những tháng năm cùng cực và cô đơn.
Thi phẩm xuất bản: Sao em không về làm chim thành phố, do Huyền Trân xuất bản vào năm 1963.

Vào một buổi chiều của tháng 7 năm 2011, trong một bữa cơm thân hữu tại tư gia nhà văn Trần Yên Hòa tại Anaheim, Nam California, để góp vui cùng bạn hữu, gia chủ đã đứng lên đọc một bài thơ mà anh cho biết không rõ tên tác giả.

Đó là một bài thơ tình. Lời thơ thật đẹp, dạt dào cảm xúc. Và tôi đã mang nó làm hành trang theo chuyến bay trở về lại New Jersey:

Buổi sáng trời mưa tôi trở dậy
Soi mặt mình bằng phiến gương đen
Chợt thấy hình em sầu đóng bụi
Nỗi đau này em nghe chăng em

Thành phố chừng như quên giấc ngủ
Tôi đi không kỷ niệm che đầu
Không em làm ấm vòng tay lạnh
Không cả ngày chưa quen biết nhau

Tôi dẫn tôi vào trong lớp học
Mây lên màu trắng áo thiên thần
Bàn tay e ấp trên trang sách
Trông dáng ai mà thương cố nhân

Sao em không là em thuở ấy
Để mỗi chiều tôi đón cổng trường
Đường xưa còn dấu chân em đấy
Gót nhỏ giờ vui mộng viễn phương

Mùa xuân nào mưa bay mãi đây
Xa nhau không một ánh trăng gầy
Nửa đêm nghe tiếng xe về vội
Tôi đốt đèn lên ngồi ngắm tay

Ơi tình yêu đã về hay chưa
Còn đây từng tháng đợi năm chờ
Còn đây một nét môi cười đó
Em vụt tầm tay tôi bơ vơ

Tình yêu, tình yêu, tình yêu ơi
Mùa xuân, mùa xuân, mùa xuân rồi
Hồn tôi muốn khóc làm sao dỗ
Em của người ta, tôi của tôi.

Trở về, tôi lên internet để truy tìm nguồn gốc. Mới biết tác giả là nhà thơ Lâm Vị Thủy. Sưu tầm thêm, được tổng cộng tất cả 5 bài…

5 bài cho một cuộc đời của một người thi sĩ. Càng cay đắng hơn khi đọc những giòng sau đây, trên một trang mạng:

 “…Bàn tay tôi lần giở những trang thơ cũ xa xưa…1978. Cô sinh viên văn khoa vẫn thường trốn học lang thang hàng giờ và vùi đầu vào hết thư viện này đến thư viện khác, hôm ấy vô tình tìm thấy trong một ngăn giá sách nằm khuất sâu phía trong một cuốn thơ mỏng đã ố vàng. Một cái tên lạ, hầu như chẳng bao giờ thấy trong các cuốn sách, các tạp chí phê bình. Nhưng ngay từ những dòng mở đầu, cô đã thấy gợi lên một cái gì đó thật đặc biệt trong đời sống tâm hồn của nhà thơ, một cái gì đó u ám, day dứt, cô đơn… Ẩn sâu trong những dòng thơ tưởng như viết ra vội vã và giản đơn là cả một tâm hồn thật yếu đuối trước những biến động của cuộc đời … Đó là tập thơ in năm 1963 của NXB Huyền Trân, tập thơ mang một cái tên thật lạ, lạ như chính những dòng thơ ấy…

 “ Sao em không về làm chim thành phố”…

Cô sinh viên ấy là mẹ tôi. Mẹ tôi mê thơ của Lâm Vị Thủy đến mức
 từng chọn đề tài luận văn là Chủ nghĩa hiện sinh, nhưng khi đăng ký, người ta trả lời rằng không có ai hướng dẫn đề tài…

Tôi không chú ý lắm đến cái tên và những dòng mở đầu trong tập thơ
 của ông, nhưng thật sự bị hút vào bài thơ “Cuối cùng” và “Thơ của những người không yêu nhau”, dù khi ấy tôi còn rất nhỏ để có thể hiểu thấu đáo những lời ông viết. Tôi cũng không đọc nhiều về chủ nghĩa hiện sinh, nhưng với tôi, và có lẽ cả với mẹ tôi, đến bây giờ Lâm Vị Thủy vẫn là một ẩn số, một cái tên lạ. Tôi chưa từng thấy ở đâu cái tên ấy, trong sách vở, trên mạng, trong các tạp chí nghiên cứu phê bình văn học.

Và sẽ tuyệt vời biết bao nếu tôi được nghe bạn nói với tôi về nhà thơ
 Lâm Vị Thủy, người đã viết những dòng thơ khắc khoải buồn rầu, gợi lên những góc khuất trong tâm hồn mà đôi khi ta tưởng như đã rơi vào vội vàng cuộc sống…

(Nguồn: Diễn Đàn CĐV SLNA: Sao em không về làm chim thành phố )

Sau đó, người viết đã cho post 4 bài thơ trong thi tập. Có điều bài thơ chánh là bài Sao em không về làm chim thành phố, người viết đã trích lọc và bỏ rất nhiều câu (khoảng 46 câu). Nguyên do có lẽ là chúng “dị ứng” đối với chế độ cai trị đương thời chăng?

Đó là lý do thôi thúc chúng tôi cố gắng sưu tầm và giới thiệu một cách nghiêm chỉnh nhà thơ Lâm Vị Thủy trong TQBT số này… (xin mời đọc trọn bài không cắt xén trong phần trích thơ LVT)

Tiểu sử và cuộc đời nhà thơ Lâm Vị Thủy

Không có một tài liệu hay sách báo nào cho biết về tiểu sử của Lâm Vị Thủy, dù chỉ vài dòng ngắn ngủi. Ngay cả tập thơ “Sao em không về  làm chim thành phố” (SEKVLCTP) do Huyền Trân xuất bản vào năm 1963, chúng ta cũng không thấy một giòng chữ về tiểu sử như hầu hết tác phẩm của các tác giả khác.  Tuy nhiên, trong ba trang đầu, “Cho Hoàng những ngày thơ mộng cũ”, ông đã hé lộ về một phần của cuộc đời thiếu thời và thanh xuân của ông:

“ Thuở nhỏ, anh sống ở một miền ngoại ô, trong sự cơ cực của những người thân yêu. Các em anh không bao giờ có lấy một cái áo lành lặn để mặc trong những ngày giỗ tết. Anh có người chú ham đọc các sách viết về các tôn giáo, chủ nghĩa và thích đánh bạc ngay với cả cuộc đời mình.
Anh nuôi nấng những hình ảnh thiếu thời ấy cho tới trưởng thành và lăn vào đời với hai bàn tay trắng, với những ý nghĩ trả thù. Anh đã phải sống không một tiếng nói, không một nụ cười bao nhiêu năm rồi.
Anh còn sống thế này bao lâu nữa…”
(SEKVLCTP, trang 10)

Ông là một giáo sư Việt Văn, dạy các trường tư thục như Âu Lạc, Văn Lang,  Chân Phước Liêm ở SG. Phước An ở Bà Chiểu. Về mặt sinh hoạt văn học nghệ thuật, ông là thành viên của nhóm Tao Đàn Bạch Nga của tạp chí Phổ Thông. Ông làm thơ rất ít, thỉnh thoảng viết truyện ngắn.

Hầu hết những sáng tác của ông xuất hiện trên tạp chí Phổ Thông. Bài thơ nổi tiếng được truyền tụng nhất của ông là bài “Tuần của tình yêu”, được đăng trên Phổ Thông số 120 ngày 1-2-1964. Trên mạng, bài thơ này đổi thành “Hình như kỷ niệm”. Chúng tôi không biết lý do tại sao và phải chọn tựa nào cho đúng. Nguyên bản bài thơ sẽ đăng lại trong phần thơ trích dẫn để bạn đọc thưởng lãm.

Sau 1975, ông trải qua một thời gian bị tù trong khám Chí Hòa. Trong cuốn Hồi ký Khám Chí Hòa, tác giả Vĩnh Khanh cho biết Lâm Vị Thủy là người rất thông suốt về khoa Tử Vi.  Tác giả đã kể lại chuyện ông được nhà thơ Lâm Vị Thủy truyền dạy tử vi như thế nào qua cái ống nước khi hai người ở hai phòng giam không hề thấy mặt nhau… Khi chúng tôi hỏi tác giả có biết gì về cuộc sống của nhà thơ Lâm Vị Thủy sau khi ở tù ra, thì tác giả Hồi Ký cho biết như sau:

“…Sau khi ra tù Chí Hòa, tôi có tìm đến địa chỉ ở Hóc Môn Bà Điểm mà ông đã cho khi còn trong tù để thăm ông. Nhà của ông lúc đó không còn nữa, ông xin tá túc trong một gia đình hàng xóm. Khi tôi đến thì ông không có nhà. Trong khi ngồi chờ ông, hai vợ chồng chủ nhà có cho tôi biết thêm về hoàn cảnh của ông. Sau khi ông ra tù, nhà cửa không còn, người thân cũng không còn ai. Ông không còn chỗ tá túc nào nên đến xin ở nhờ gia đình này, với lời hứa sau khi tìm được việc làm sẽ trả tiền thuê nhà sau. Tuy nhiên ông không thể tìm được một việc làm nào ổn định cả. Mỗi ngày ông đi lang thang khắp nơi tìm bạn hữu hoặc người quen nào đó khả dĩ có thể giúp cho ông được một chút ít tiền bạc, hoặc việc làm lặt vặt … cứ thế lây lất qua ngày. Qua lời nói của hai vợ chồng chủ nhà lúc bấy giờ, tôi nhận xét thấy họ không còn hoan nghênh ông nữa, chỉ muốn ông có thể tìm được một chỗ nào khác và rời khỏi nhà họ càng sớm càng tốt để họ khỏi phải vướng bận!
Tôi nghe chuyện này từ hai vợ chồng chủ nhà mà thấy buồn vô cùng. Ngồi được một lúc thì ông về. Ông rất mừng khi gặp lại tôi, tuy nhiên cũng rất ái ngại khi ở trong một hoàn cảnh như thế . Tôi hiểu ý nên mời ông đi ra ngoài ăn sáng. Tôi còn nhớ chúng tôi đã ăn cơm tấm buổi sáng hôm đó. Ông nói với nụ cười thật buồn khi chủ quán mang hai dĩa cơm tấm đặt trên bàn: “Anh biết không? Từ khi ra tù đến nay, đây là bữa ăn sáng thịnh soạn nhất của tôi!“. Câu nói đã làm tôi xúc động rất nhiều. Một người tài hoa như thi sĩ Lâm Vị Thủy lại có lúc sa vào một cảnh ngộ thê thảm như thế. Lúc đó tôi không mang theo tiền nhiều trong người nên chỉ có thể gởi cho ông một ít.

Tôi hẹn với ông mấy hôm sau gặp lại để biếu ông thêm. Lần thứ hai tôi gặp ông ở quán Xuân Lạc Viên, gần cổng xe lửa số 6, Phú Nhuận. Tôi biếu ông thêm một số tiền và có cho ông biết là tôi sắp đi vượt biên. Từ đó tôi không gặp ông nữa.”

(trích email trả lời)

Từ đó tôi không gặp ông nữa
. Cánh cửa thế gian đã tàn bạo đóng ầm lại, quay mặt phũ phàng dù người ấy là một giáo sư nổi tiếng có rất nhiều học trò và một nhà thơ được nhiều người mến mộ!

Giờ đây tôi chỉ biết cậy vào Google để may ra còn được gặp ông. Mà Google cũng chịu thua.

Nếu Google có giúp chăng thì chỉ một giòng ngắn ngủi trong truyện ngắn của Hoa Hoàng Lan: “Sợi tóc bạc”, theo đó, tác giả cho biết giáo sư Lâm Vị Thủy đã qua đời trong đói nghèo, bệnh tật và túng bấn (nguyên văn).

http://kekhopk.com/forums/index.php?showtopic=23508&mode=threaded&pid=91178

Tôi muốn kiểm chứng cho chắc chắn, nên gởi một lá thư về tác giả qua trung gian một tờ nhật báo, nơi tác giả Hoa Hoàng Lan đã và đang cộng tác, nhưng rất tiếc vẫn chưa nhận được hồi âm.

Giả dụ nếu ông còn sống, thì tính đến nay, số tuổi của ông tối thiểu cũng phải 75 tuổi, tức là sinh vào năm 1936. Bởi vì, qua bài thơ Một người bỏ đi trong thi tập  (được hoàn tất vào tháng 8-1962), Lâm Vị Thủy có thố lộ số tuổi của mình:
Em về Phú nhuận hay đâu
Còn tôi hai sáu tuổi đầu rồi đây
(SEKVLCTP, trang 20)

Nếu có gì sai, xin quí bạn vui lòng cho chúng tôi biết, xin hết lòng cám ơn. (1)

____
(1) Chúng tôi mới nhận được tin từ một người cựu học sinh trung học Chân Phước Liêm cho biết nhà thơ sinh năm 1937 và mất năm 2002. Có nghĩa là chúng tôi đoán sai một năm.


THƠ LÂM VỊ THỦY

Điệu buồn theo
Tôi đã về tôi đã về đây
Thềm sương mù tỉnh giấc trưa gầy
Dấu chân xưa mất trong màu cỏ
Tôi vẫn còn đây vẫn trắng tay
Khói xanh dòng thuốc khơi tàn mộng
Mùa xuân nào mang em ra đi
Em đi thì có bao người tiễn
Thì lỡ bao nhiêu chuyện ước thề
Em ở đâu rồi em ở đâu
Bốn phương trời để một tôi sầu
Em mười mấy tuổi trăng mười mấy
Sao bắt tôi chờ trọn kiếp sau.

Còn gì cho nhau
Trời mưa làm buồn khu phố nhỏ
Tàu sẽ xuôi hay ngược chiều nay
Còi xa bật khóc lên rồi đó
Em sẽ đi, mình xa nhau đây.
Những ngón tay gầy thưa kỷ niệm
Anh cho em cho quê hương này
Nửa đời anh đấy anh tìm kiếm
Ôi nghìn thu nào chưa mây bay
.Anh nghĩ hồn anh là bọt bể
Vẫn đơn côi và mãi mang sầu
Lần xưa đã lỗi lầm như thế
Em có bao giờ em biết đâu?

Tuần của tình yêu

Chủ Nhật
Buổi sáng trời mưa tôi trở dậy
Soi mặt mình bằng phiến gương đen
Chợt thấy hình em sầu đóng bụi
Nỗi đau này em nghe chăng em?

Thứ Hai -
Thành phố chừng như quên giấc ngủ
Tôi đi không kỷ niệm che đầu
Không em làm ấm vòng tay lạnh
Không cả ngày chưa quen biết nhau

Thứ Ba -
Tôi dẫn tôi vào trong lớp học
Mây lên màu trắng áo thiên thần
Bàn tay e ấp trên trang sách
Trông dáng ai mà thương cố nhân

Thứ Tư -
Sao em không là em thuở ấy
Để mỗi chiều tôi đón cổng trường
Đường xưa còn dấu chân em đấy
Gót nhỏ giờ vui mộng viễn phương

Thứ Năm -
Nghìn thu còn mưa bay mãi đây
Xa nhau không một ánh trăng gầy
Nửa đêm nghe tiếng xe về vội
Tôi đốt đèn lên ngồi ngắm tay

Thứ Sáu -
Ôi tình yêu đã về hay chưa
Còn đây từng tháng đợi năm chờ
Còn đây một nét môi cười đó
Em vuột tầm tay tôi bơ vơ

Thứ Bảy -
Người yêu, người yêu, người yêu ơi
Mùa thu, mùa thu, mùa thu rồi
Hồn tôi muốn khóc làm sao dỗ
Em của người ta, tôi của tôi.

(trích Phổ Thông số 120 ngày 1-2-1964)

- Bài thơ này được phổ biến trên một vài trang mạng với tựa đề: Hình như kỷ niệm (Tòa soạn chú thích)

Sao em không về làm chim thành phố

1.
Thôi bây giờ đã vào mùa hạ
Tôi xin làm trẻ thơ
Giấc ngủ trần truồng bên đồi cỏ rối…
Thôi bây giờ tôi giã từ em
Câu chuyện hoang đường hồi nhỏ dại
Như kẻ từ sa mạc tìm về
Như thuở nằm nôi chưa lần rửa tội
Thôi bây giờ tôi trả cho tôi
Những khoảng tâm hồn hoang vu, cằn cỗi
Mà đau đớn vô cùng

2.
Căn gác bỏ quên ly cà phê đen
Hình bóng em cuối mỗi con đường
Mang tên một hành tinh xấu số
Những gốc cây hô hào đòi lật đổ
Sự lỗi lầm nào đã buộc chúng ta vào nhau
Khi trời chưa mùa hạ
Khi tôi chưa là người thủy thủ già
Bới tóc người yêu trên cát

3.
Thôi bây giờ người đưa thư không đến nữa
Tôi sống bằng màu áo em mang
Bằng những buổi trưa đón em về ngã tư đèn xanh đèn đỏ
Như những ngày mưa chợt đến vội vàng
Những thoáng vui làm phiền muộn
Tôi lang thang ra bờ sông
Dòng nước đen sâu hình ảnh tôi muôn đời
Vẫy những con tàu đi không trở lại
Vẫy những người đưa thư đi qua
Những kỷ niệm nhích xa mình mãi mãi
Bởi vì vẫn đi nên chịu một mình
Như chuyến xe lăn tròn cỏ xấu
Tôi để tôi ngồi ghế đá công viên
Chép sử đời mình đám đông dòm ngó
Kẻ nào dơ tay thề trên hồn mình
Kẻ nào đứng lên chửi thầm đồng loại
Sao em không về làm chim thành phố
Lệ nhỏ hai hàng khép đỉnh ngọn cây

4.
Này đây ngàn chuỗi ưu tư
Em bó mình tôi trước giờ tôi chết
Rồi thôi tất cả chẳng còn gì
Thềm nhà đất ẩm em chân không
Gian phòng tôi nghĩa địa
Với áo cỏ gai nụ hôn đầu cúi mặt
Tôi biết viết gì cho em
Khi những cánh thư quên đường Gia Định
Khi những cánh thư thôi về Bình Dương…
Tôi xin em một bài vọng cổ
Tôi xin em một điệu nam bình
Người tình mình ở mãi phương xa
Môi sốt hồng mệt mỏi
Mùa lạnh tái tê này
Khoe quyến rũ

5.
Em biết không quê hương mình
Thế hệ xưa là bóng núi
Xui lòng em giận hờn
Tôi nguyền rủa tôi
Kẻ tội đồ chứng nhân lịch sử
Em biết không khi chối bỏ cuộc đời
Tôi sẽ gọi tên em như một lời cầu cứu
Tôi sẽ gọi tên em vì tôi bơ vơ
Khi con đường phố chợ
Khi xóm bình dân những bữa cơm gia đình
Muốn khóc.
Hãy cho tôi được nắm lấy tay em
Được giữ rất lâu hai bàn tay bé nhỏ
Để nghĩ rằng quê hương chưa xa mình
Để nghĩ rằng tôi hãy còn tất cả
Ôi tình yêu và tuổi trẻ nhục nhằn

6.
Như mùa thu âm thầm đến muộn
Áo mỏng trời sương lồng ngực đau
Viền chỉ tay sần sượng
Tôi mua tờ báo loan tin buổi chiều
Thân thể khắc đầy những danh từ cách mạng
Em biết không.
Bởi vì chúng ta đã trưởng thành
Bởi vì chúng ta không quyền lựa chọn
Chúng nó bất công giết người khủng bố
Nên chúng ta cần đốt lửa trái tim
Nên chúng ta cần có nhau mỗi ngày
Bởi vì chúng ta cùng chung lịch sử
Bởi vì chúng ta cùng chung chặng đường

7.
Vỉa phố gót chân mềm mưa mang vào thư viện
Mỏi hơi nằm ôm sách
Tường cao tường cao mênh mông
Kẻ nào đứng lên kêu gào thảm thiết
Tự do – tự do
Cho những người đã chết

8.
Tôi sẽ đưa em vào quán rượu
Nhịp điệu hành hình man rợ công khai
Làm gã trai lơ phóng đãng chơi bời
Buôn bán niềm vui hắt hủi
Như người ta gỡ tấm khăn choàng nghẹt thở
Tôi đưa em ra bờ sông
Khánh Hội mồ côi Tân Thuận sình lầy
Chánh Hưng không đành thiếp mệt
Như người ta gỡ tấm khăn choàng nghẹt thở
Tôi đưa em về vườn bông trái Lái Thiêu
Ngọt bưởi Biên Hoà phù sa Bassac
Em ngủ vai tôi ngậm tròn nước mắt
Em ngủ vai tôi tiếng hát êm đềm:
- “ Nhà bè nước chảy chia hai
Ai về Gia Định, Đồng Nai thì về…”
Ai về Gia Định, Đồng Nai thì về…

9.
Em còn nhớ không sân ga Hàng Cỏ
Năm cửa ô nghèo khổ
Ngục tù
Những tháng năm chìm Mai Lĩnh Hà Đông
Mồ hôi nước mắt
Em còn nhớ không Cống Trắng Nam Đồng
Chữ học ban đầu
Em còn nhớ không
Em còn nhớ không
Chúng nó bất công giết người khủng bố
Nên chúng ta cần đốt lửa trái tim
Nên chúng ta cần có nhau mỗi ngày
Bởi vì chúng ta cùng chung lịch sử
Bởi vì chúng ta cùng chung chặng đường
Như mùa xuân bé bỏng mong chờ
Như tuổi lên mười thơm hiền sữa mẹ
Tôi cũng muốn tin như em đã tin rằng phải có những tín điều
Để buộc liền chúng ta với nhau
Để buộc liền chúng ta vào xứ sở
Tôi cũng muốn tin như em đã tin rằng chỉ có tình yêu là đáng kể
Và khuôn mặt em ngời hy vọng cuối cùng

10.
Thôi bây giờ em khóc đi em
Như những người quen nhau ngoài phố
Những trang nhật ký buổi đầu
Không căm thù giả dối…
- Bài này được phổ biến trên một vài trang mạng với 80 câu. Chúng tôi xin phổ
biến toàn bài (ghi chú của Tòa soạn)


Cho một người xem

Bỏ ngoại ô những chiều thứ bảy
Những đường mòn khấp khểnh bánh xe lăn
Tôi vào thành phố
Mẩu thuốc cuối cùng cháy ngúm hai đầu ngón tay
Lối về nhà em mùa này chắc lạnh
Những súc gỗ lột da nằm sân ga hổn hển
Bụi than làm xám đen nền trời kỷ niệm ngày hai đứa mới yêu nhau
Những mẩu chuyện thần tiên hồi trẻ dại
Tóc em đùa cánh đồng đừng buông lau gió thổi
Có phải cuộc đời như ga xép
Chúng mình những chuyến tàu quen thuộc
Đôi mắt người xếp tanh* giờ ngó tìm qua vuông kính mở
Những dòng sông
Những cánh rừng cao su chưa lấy mủ
Tôi đã khóc khi nghĩ rằng ngày mai tôi có thể quên em
Quên một người con gái mang tên Hoàng
Dù chỉ là trong giấc ngủ
Tôi xin được làm con chim nhỏ
Con chim màu xanh
Những sớm mai đậu ngoài cửa sổ
Dỗ giấc em ngon lành
Đừng bao giờ giận hờn nhau…


Cuối Cùng

Thứ bảy mà sao trời muốn khóc
Không em thành phố trống vô cùng
Tôi đứng chờ xe mà sợ lạc
Chuyến xe nào mang tôi xa thêm em
Như thuở mười lăm thường trốn học
Hồn tôi lang thang đi tìm mình
Dấu tay thượng đế quên điểm chỉ
Tôi đem thân mòn phơi công viên
Em vùi da thịt trên bồn cỏ
Cột điện làm se những sợi vàng
Lời trăn trối nén tung ngoài lệ
Hai đứa gần nhau giấc ngủ đen.


Thơ của những người không yêu nhau

Một mình tôi trên chiếc buýt buổi chiều
Chiếm lấy chỗ ngồi riêng người tàn tật
Xe qua sông khi thành phố đang mưa
Những ngọn đèn xa mang màu mắt đỏ
Cát biển mặn mòi tôi thân sỏi nhỏ
Còn sót lưng năm bảy ngón ngang tàng
Tôi muốn ôm và hôn em lần cuối
Lịch sử chúng mình du đãng con hoang
Rồi ngày mai tôi tới lớp một mình
Ngồi chỗ em ngồi bỗng dưng thèm khóc
Khung cửa sổ này, lối đi xưa còn đó
Bầu trời xanh và sắc áo em đâu
Tôi trở về hai bàn tay mở ngỏ
Không gia đình, không xứ sở, không em
Đem tên tôi đi gõ hỏi từng người
Xin giấc ngủ với vô vàn kỷ niệm.


Ngày tháng năm

Tôi sẽ về Gia Định chiều nay
Chiếc buýt cuối cùng qua sông cầu mới
Những ngọn đèn vàng ngậm cười ven bãi.
Tôi sẽ ngồi quán cà phê đầu đường đất đỏ
Kêu một ly đen nhỏ
Đợi chuyến xe bò chở rác về khuya.
Bây giờ tháng bảy trời đương mưa
Em lấy chồng tháng ba năm ngoái
Tôi thiếu em những ngày xưa ngu dại
Em nợ tôi dăm ba lời tạ từ.
Bởi vì không quê hương nên nghĩ mình yếu đuối
Tôi trở về mang dấu chàm tử tội
Và những chuyện thần tiên những chuyện thần tiên chưa từng kể
Không có em còn nói cho ai
Không có ai Gia Định còn gì để tôi quyến luyến.
Như những người lái xe đi qua đời mình nhắm mắt
Tôi trở thành lãng tử trong ca dao
Tóc rối ưu tư nụ cười nửa miệng
Thuốc hút vàng tay mà vẫn se môi
Không có em những tuần trăng ở đây vô nghĩa
Chủ nhật nhà thờ không người dự lễ
Tôi đi vào những lối đi xưa
Gọi tên em cùng với lúc thành phố lên đèn
Và tiếng còi tầu chợt đến rất xa xôi
Phải chi em đừng có nhiều kỷ niệm
Phải chi tôi đừng thèm biển rộng sông sâu
Thì em muôn đời vẫn là người yêu đơn sơ bé nhỏ
Thì tôi không bao giờ phải khóc hôm nay…

Lâm Vị Thủy
-----------------------------
*Chú thích của TS TQBT: Xếp tanh (từ gốc chữ Pháp “Chef de train”) là nhân viên hỏa xa phụ trách tổng quát trên xe lửa.

---
Bên dưới post này, có comment rất an ủi từ con của nhà thơ.
  1. Lâm Tường Thoại 
    Tôi tên Lâm Tường Thoại, người con trai thứ hai của nhà thơ Lâm Vị Thủy. Chúng tôi gồm hai trai, một gái là con của người vợ đầu. Ba tôi có thêm 1 gái, 1 trai với người vợ thứ hai. Thời điểm những năm sau giải phóng cả ba tôi và chúng tôi đều rất khó khăn. Má chúng tôi đã đưa chúng tôi đi ở nơi khác, không ở chung với ba Thủy từ năm 1972 khi ông có người vợ thứ hai, tuy nhiên chúng tôi vẫn giữ liên lạc với ba Thủy và thăm viếng ông, ngay cả khi ba tôi ở Chí Hòa. Sau đó khi chúng tôi lớn, tốt nghiệp ra trường, làm việc … cuộc sống tương đối dễ thở hơn. Ba tôi mất năm 2002 nhưng khi đó không phải ở một mình mà vẫn đang ở với gia đình thứ hai tại Thị Nghè, khu vực gần ngôi trường Phước An mà ba tôi từng dạy. Chúng tôi gồm 2 con trai và đứa em gái ở Úc về đã chu toàn mọi việc cho ba đến nơi an nghĩ cuối cùng. Dự đám tang còn có chú tôi (em ruột của ba ở Hà Nội vào), một số anh chị là cựu học sinh của ba. Chân thành cảm ơn anh Trần Hoài Thu, những anh chị là cựu học sinh của ba tôi, những bạn bè của ba, những độc giả quan tâm đến ba tôi đã cất công sưu tầm những vần thơ của ba, đã cung cấp những thông tin về ba để đăng tải trên blog của anh Trần Hoài Thu.
  2. mimosa phương Vinh 
    Năm 17 tuổi tôi được một người bạn của ông anh tặng cho tập thơ” Sao em không về làm chim thành phố”. Tôi say mê, miệt mài với tập thơ này nhưng không biết Lâm Vị Thủy là ai …Tôi còn nhớ trong phầm mở đầu của tập thơ có câu” Ở đây mau tối mà chậm sáng, bốn mùa sương mù qua kẻ tay, cảnh trí chỉ là những tỉnh vật, con người chìm đắm trong những nổi nhớ nhung muôn đời như không bao giờ muốn mở miệng ….Anh thường nghĩ đến em như nghĩ đến những ngày mai dù những ngày mai ấy tràn đầy bóng tối…”
    Tập thơ có những bài rất hay, như những bài mà ông Trần Hoài Thư đã sưu tầm được.Tôi tò mò muốn biết nhiều về tác giả này, nhưng chỉ biết đước rằng ông đã từng dạy trường Văn Lang- Saigon mà thôi. Tôi luôn nghĩ rằng: không phải người tài hoa nào cũng nổi tiếng vì lẽ rằng làm thơ như Lâm Vị Thủy mà không có tên trong danh sách những nhà thơ lớn của miền Nam trước 75 thì thật là một điều thiếu sót lớn. Cách đây 2 năm tình cờ vào web:phodatron.net của nhà văn Vĩnh Khanh đọc được một bài thơ của Lâm Vị Thủy tôi vội email hỏi về Lâm Vị Thủy thì biết rằng ông Khanh đã từng ở tù với Lâm Vị Thủy ở Khám Chí Hòa, ông cho biết rất quý mến nhà thơ này và cũng rất mong được liên lạc với Lâm Vị Thủy:
    những câu cuối của bài thơ Sao em không về làm chim thành phố là:
    Kẻ nào đứng lên thề trên hồn mình
    Kẻ nào đứng lên chửi thầm đồng loại
    Sao em không về làm chim thành phố
    Nắng đổ hai hàng khép đỉnh ngọn cây
    Bây giờ tôi thật hài lòng mà biết rằng không phải chỉ mình tôi ở tuổi đôi mươi đã và luôn yêu thơ Lâm Vị Thủy, mà cũng có rất nhiều người đã yêu thơ ông. Tôi hy vọng trong một góc ẩn khuất nào đó trong ngôi nhà xưa tập thơ “Sao em không về làm chim thành phố” vẫn còn đó. Bao nhiêu năm rồi tôi chưa có dịp trở về nên hy vọng vẫn là hy vọng.
    Xin chân thành cảm ơn ông Trần Hoài Thư và quý đọc giả gần xa đã đóng góp tin tức, tài liệu về nhà thơ Lâm Vị Thủy, một người tài hoa trong văn đàn miền Nam Việt Nam trước 1975
    Kính bút
    Mimosa Phương Vinh
    Berryhill-TN



---
Đoạn post tiếp theo, đây là trích từ blog Trần Hoài Thư, người đã nặng lòng đi gom nhặt tác phẩm của thầy Lâm Vị Thủy. Rất vô cùng cảm tạ bác Trần Hoài Thư vì đã nặng lòng đến thế.

Một mối bận tâm lớn nhất của tôi là làm sao sưu tập tài liệu tác phẩm của nhà thơ Lâm Vị  Thủy.  Quí bạn muốn biết tại sao, xin cứ Search GOOGLE “Lâm Vị Thủy” thì sẽ biết tại sao. Thơ tình của ông quá hay. Nhưng ít người biết đến ông. Chỉ có 5 bài thơ Lâm Vị Thủy được post trên NET. Ông nguyên là một giáo sư Việt Văn của nhiều trường tư thục ở SG, một nhà thơ tài hoa. vậy mà cuộc sống của ông sau năm 1975 thì cùng cực cô đơn, cùng cực nghèo túng, không biết giờ này ông sống chết thế nào… Nếu không giới thiệu Ông thì giới thiệu ai bây giờ?
Tôi đã cố liên lạc với một số thân hữu, nhất là những người ngày trước từng biết ông, nhưng không ai biết, không ai nhớ.
Ôi đời một nhà thơ miền Nam là như vậy đó.
Và cũng vì tiếng  gọi vô hình thôi thúc ấy, cho nên bằng mọi giá, tôi phải lái xe lên thư viện Cornell, để mượn tất cả số Phổ Thông trước 1975 từ năm 1962 – 1973, bởi vì tôi biết thơ ông thường đăng trên PT. Lái xe một mình suốt 5 tiếng cho một lần đi,  khi đôi mắt quá yếu, nhất là vào ngày Mông 7 Tết vừa qua, tôi suýt gây một tai nạn thảm khốc và tự hứa sẽ không bao giờ đi Cornell nữa. Chẳng ai biết, chẳng ai bận tâm. Có Lâm Vị Thủy thì cũng tốt, mà không có thì cũng chẳng ai cần thắc mắc.  Bao nhiêu năm qua, không ai đặt một câu hỏi. Học trò của thầy LVT cũng chẳng đặt câu hỏi.
Chỉ có một mình tôi. Tôi hỏi Google, nhưng cũng chịu thua.
May mà nhờ thư viện Cornell. Cám ơn vạn lần trường đại học này đã ra tay cứu độ, gìn giữ di sản văn học miền Nam. trong đó có thi phẩm Sao Em Không Về Làm Chim Thành Phố của nhà thơ Lâm Vị Thủy, do Huyền Trân xuất bản năm 1963. Cám ơn một nơi chẳng dính líu gì đến văn học VN, mà bảo tồn nó trong lầu cao, trong ngăn tủ, trong bìa bọc…
Để tôi biết thêm là bài thơ Sao Em Không Về Làm Chim Thành Phố mà một số Trang Mạng đã post, thiếu sót trầm trọng. Tổng cọng 125 câu, nhưng chỉ  post 80 câu, thiếu đến 45 câu !
Tôi đã hiểu tại sao rồi.
Nguồn: đây


Wednesday, March 12, 2014

Nỗi cô đơn của Viết


---
Lớn lên từ những ngộ nhận

Làm sao giải thoát được sự cô đơn, làm sao nói với nhiều hơn một người, tôi tự hỏi mình câu hỏi đó khi bắt đầu tuổi mười tám trên một mảnh vườn thênh thang vắng rợn bóng người. Những năm sau đó thật là dài, như vô tận, với một đứa trẻ luôn cần sự sôi động. Và tôi viết văn. Câu hỏi mà những người thân đặt ra khi nhìn thấy những trang viết đầu tiên của tôi là “tại sao con viết văn?”. Tôi bảo rằng, tại con buồn.

Đó là ngộ nhận đầu tiên của tôi về nghề viết, tôi tưởng viết là sẽ không cô đơn nữa. Nhưng cô đơn là sự tối cần của người viết, nó là một điều kiện hàng đầu của nhà văn. Không một người viết hay nào tôi biết mà không cô đơn, không một thần tượng văn chương nào của tôi mà không bị cô đơn giày vò. Và để chạy trốn nỗi cô đơn trong giao tiếp đơn thuần mặt nhìn mặt, tay nắm tay, việc viết văn đã dẫn tôi đến sự cô đơn khác, đó là ở giữa đám đông mà họ không thấy tôi, hoặc họ thấy một cái gì đó giống tôi, họ tưởng là tôi, nhưng tôi đang đứng ở một chỗ khác, một mình, chờ một bàn tay chạm. Khi người ta bằng mọi cách chạy trốn sự cô đơn thì tôi, và những đồng nghiệp của tôi lại nuôi cô đơn, cho nó ăn để duy trì sự cô đơn tồn tại trong người mình cho cái gọi là sáng tạo văn chương.

Với lý do đó, tôi bắt đầu một ngộ nhận khác, rằng văn chương là công việc đơn độc, đó là công việc thuần túy cá nhân, ít ảnh hưởng đến những người chung quanh. Nhưng khả năng tác động của văn học với mỗi độc giả đã dạy tôi rằng, một khi tác phẩm đến với bạn đọc, nó không còn là của tôi, và tư duy theo cách của tôi nữa. Mỗi người đọc có một cách nghĩ khác nhau. Nhà văn luôn ở trong tâm thế của một người mẹ phải đưa đứa con ra đường, và để cho nó tự sống, được nâng niu hay ruồng rẫy, được chăm sóc hay chà đạp, bà mẹ không thể làm gì, bởi đứa con đã vượt ra khỏi tầm tay bà. Một người viết dấn thân luôn gặp phải va chạm giữa những tư tưởng, những kiểu hiểu và hành xử khác nhau. Đó là công việc không an toàn chút nào, nó đầy rủi ro, bất trắc. Người viết cũng là một người lính. Tôi hoàn toàn thích cách ví von này, nó làm cho tôi có được một lý do để yêu nghề.

Bởi tôi đã tưởng mình không yêu thích, không đam mê viết. Tôi chỉ nghĩ, đó là một nghề sống được, như người thợ máy, như người thầy giáo, như một viên chức mẫn cán... Tôi sẽ rời bỏ công việc này khi nào tôi không thích nữa. Nhưng văn chương đã ở bên tôi vào những lúc mệt mỏi và kiệt sức nhất, những lúc tôi hạnh phúc, thăng hoa nhất. Và giữa lúc này đây, ở giữa các bạn, những người thuộc một quốc gia khác, với một văn hóa chính trị khác với đất nước tôi, tôi thấy mình yêu công việc sáng tạo văn chương hơn bao giờ hết, yêu vì ngạc nhiên trước khả năng chia sẻ của văn học, đã vượt qua khỏi những biên giới địa lý, những rào cản ngôn ngữ, những khác biệt của lối sống. Tôi vốn là người hay xây những bức tường quanh mình, bỗng một ngày nhận mình cũng có khả năng bắc một nhịp cầu. Và tôi có thể đến với người, nếu muốn.

Tôi sinh sống ở vùng đất Nam Bộ, và những tác phẩm của tôi đều viết về đất và người Nam Bộ. Mảnh đất cuối cùng của đất nước tôi hay mang một cảm giác nhược tiểu của vùng đất mới khai phá, không có cái nền văn hóa dày và sâu, nằm xa những trung tâm văn hóa kinh tế lớn, giáo dục, đặc biệt là văn học ít có thành tựu, không được đánh giá cao trong giới cầm bút, trong những tổng kết của văn học Việt Nam. Bất cứ người viết văn nào xuất hiện ở vùng đất này đều được sự đón nhận nồng nhiệt, tôi cũng vậy. Được xem như một đặc sản của miền Nam, một người viết Nam Bộ thuần túy, nhận nhiều kỳ vọng của mọi người, đặc biệt là đồng nghiệp, tôi sung sướng, và thấy hài lòng, mình đã làm việc đó cho quê hương, cho mảnh đất này.

Nhưng sự trải nghiệm của tuổi tác, của thời gian đã làm tôi nhận ra, những gì tôi viết là không gian của riêng tôi, của sự tưởng tượng và sáng tạo. Những đất ấy, người ấy, tôi chỉ mượn cái hồn cốt, giai điệu của Nam Bộ để chuyển tải. Thổ ngữ địa phương chỉ là phương tiện thể hiện ý tưởng và câu chuyện của người viết. Chúng được mọi người xem là phong cách riêng của văn tôi. Nhưng thực chất đó chỉ là một lớp vỏ, tôi muốn bỏ qua cả lớp vỏ đó, để tận mắt thấy trên mảnh đất này, người đời đang lạnh hay ấm, vui hay đau qua làn da, qua từng vết tím, từng cái se lại của lỗ chân lông, thấu thị tận tâm hồn, như một người hành hương về chốn tâm linh không cần bất cứ phương tiện hiện đại nào, chỉ bằng đôi chân trần. Những gì tôi viết, tình yêu, sự dối trá, thù hận, sự tha thứ, hay trả thù, tôi tin rằng chúng xảy ra ở bất cứ vùng miền nào trên trái đất này. Bởi đâu đâu cũng những thân phận, những số phận con người.

Nghề viết, văn chương vốn gây nhiều ngộ nhận, ngộ nhận liên tiếp ngộ nhận. Ngộ nhận ngay từ trên tác phẩm, tưởng chỉ là con chữ nhưng bỗng đâu nhân vật với đầy đủ xương thịt sống động mỉm cười. Tỉnh ra là sự thất vọng bàng hoàng giữa ý tưởng và thể hiện thực tế; giữa cuộc sống bề bộn nóng hổi và sự xa lạ lạnh lẽo của trang viết; giữa thực tại và mơ ước, khát vọng văn chương; giữa cái cảm giác của một người viết ra tác phẩm và của một người đọc để nhìn nhận nó theo cách khách quan.

Tôi luôn tự hỏi, mình đã đủ tỉnh táo chưa, đầu mình đã đủ lạnh chưa cho một trái tim quá nóng? Những trang viết này có làm mình xấu hổ không, có đi vào lòng người không, có khiến người ta nhớ không? Những câu hỏi đặt ra chỉ là cách để tôi không phải vướng vào một ngộ nhận sơ đẳng nhất, nhưng dễ giết chết người viết văn nhất, đó là ảo tưởng về mình. Tôi sợ mất mình, sợ lạc mình ở một nơi mà cả đời không tìm lại được vì tưởng mình đã ở quá cao. Thực tế, trong văn học không hề có đỉnh cao nào, và tôi chỉ là người viết cô đơn ngơ ngác bên chân núi.

Chỉ cần giữ được mình, dù thời gian tiếp nối, những ngộ nhận cũng tiếp nối, lên một bậc thang, ngoái nhìn bên dưới, tôi sẽ nhìn rõ hơn con đường mình từng đi. Nó in hằn những bước chân lúc thẳng, cương quyết, lúc chuệch choạc, ngập ngừng.

Ngày mai, khi nghĩ về những gì tôi phát biểu trong cuộc gặp gỡ này, rất có thể tôi sẽ tự cười mình. Bản thân tác phẩm của mỗi người viết văn đã nói lên nỗi buồn, nỗi cô đơn, tư duy sáng tạo, cách nhìn cuộc sống… diễn giải bản thân ngoại phạm vi tác phẩm, mong nhận được sự đồng cảm của các bạn, có thể sẽ là một ngộ nhận khác.

Sự quyền biến sâu thẳm của công việc viết văn khiến tôi có những giấc mơ dại dột của riêng mình và khi tỉnh dậy, tôi luôn thấy mình lớn lên.


[Bài phát biểu của cô Tư (a.k.a Nguyễn Ngọc Tư) tại Hàn Quốc, nhân dịp Cánh đồng bất tận được xuất bản tiếng Hàn. Cọp-pi từ trang viet-studies ]


---

Hồi, đọc ai đó viết 1 bài về Nỗi cô đơn của đọc, tôi từng định viết một bài về nỗi cô đơn của Viết. 

Nếu như đọc là cuộc dấn thân một mình vào những trang sách, tự mình phiêu lưu cùng nhân vật, tự mình buồn vui theo câu chuyện, thì, ít nhất, có-nhiều-hơn-một-người dấn thân. Rõ ràng mỗi cuộc dấn thân đều đơn độc, nhưng có nhiều-hơn-một những cuộc dấn thân đơn độc cùng xảy ra. Cho dù, suốt hành trình ấy, bạn say mê màu cây màu trời nhưng người đọc khác chỉ thích màu nước mắt màu áo quần lòe loẹt màu tóc anh kia đẹp... thì ít ra, bạn vẫn có ai đó. Hoặc là đồng tình hoặc là phản đối. Hoặc là nghĩ giống nhau hoặc cãi nhau từa lưa.

Và cho dù không có ai đi chăng nữa, thì bạn vẫn có thể cảm thấy thế này thế nọ. Ông nhà văn viết hay ghê, ông nhà văn kỳ thế sao để ảnh chết? Ví dụ vậy. Đại khái, có gì đó để bạn ném đá - nếu bạn ghét. Và tung hoa - nếu bạn ưng.

Nhưng viết thì là một công cuộc tự kỷ nhất trần đời. Ồ cái nhân vật đó cái chi tiết đó: trong tưởng tượng của bạn nó PHẢI như thế, nó ắt hẳn hay ho lắm. Mọi thứ xảy ra trong đầu bạn và bạn phải lôi chúng ra, đặt xuống giấy. Mà phải đặt một cách ngon nghẻ ổn thỏa y như bạn nghĩ trong đầu ấy cơ. Nếu bạn ko làm đc vậy, thì chưa cần ai đọc cả, tự bạn muốn treo ngược mình lên rồi. 

Nói chung, tôi mới chỉ tàm tạm cảm thấy đc từng ấy. Sau khi đọc bài của cô Tư thì không thấy cần viết thêm gì nữa. 

Những điều cô Tư nêu ra cũng là một trong những lý do mà tôi chưa bao giờ đặt chữ "nhà văn" vào trước tên mình, và cực kỳ không thoải mái khi bất cứ ai cứ gọi tôi là nhà văn nhà veo. Tôi cảm thấy để trở thành "nhà văn" như vậy thì sự đánh đổi là quá lớn và có lẽ tôi chẳng kham nổi.

Thế nên, tôi bằng lòng gọi mình là người viết. Vậy đủ rồi :)



Saturday, January 11, 2014

Kính ảnh màu

Năm Việt - Pháp là một dịp tốt để tổ chức một cuộc triển lãm, trước tiên ở Hà Nội sau sẽ ở Paris, và trưng bày 60 bức hình màu cách đây một thế kỷ, hiện được bảo quản tại Kho Lưu trữ Toàn cầu, trực thuộc Viện Bảo tàng Albert Kahn. Nơi đây là một cơ sở được thành lập vào đầu thế  kỷ XX, với ý đồ rất đáng hoan nghênh là lưu giữ lại những hình ảnh cuộc sống trên thế giới lúc ấy đang biến chuyển  nhanh và có cơ nguy sẽ vĩnh viễn mất đi. Nhưng thực ra, lợi ích đầu tiên của triển lãm này là đưa trả lại đông đảo mọi người những bức ảnh chụp từ một thế kỷ về họ. Còn gì chính đáng hơn việc giới thiệu hình ảnh của người Việt Nam cho người Việt Nam, dù đấy là những hình ảnh xa xưa, mặc dù mọi điều kiện xã hội và chính trị nay đã đổi thay?

Từ sưu tập gốc gồm hơn 1500 phiên bản hình màu do Léon Busy chụp (từ 1914 đến 1915), chúng tôi tập trung chọn lọc những bức đẹp nhất, hữu ích nhất cho việc nghiên cứu Việt học, vì ghi lại chứng tích đời sống vật chất và tinh thần của người Việt thời bấy giờ. Tất nhiên, đã có những nhiếp ảnh gia khác để lại nhiều bức ảnh giá trị về thời điểm xa xưa, song những "phiên bản kính tự nhiễm sắc" này (autochromes) thật đúng là những bức ảnh màu đầu tiên, nhờ phát minh của anh em gia đình Lumière (1903). Màu sắc khiến những tư liệu này có thêm một tầm cỡ khác rất đáng chú ý, ấy là tính chính xác. Nhờ thế nên chúng ta biết rõ ràng áo quần thời ấy màu sắc ra sao. Do vậy, đồ chơi của trẻ em, dù tầm thường thế nào, đều khoe vẻ đẹp muôn màu. Cây cối đến mùa trổ hoa cũng mang sắc thái khác nhau. Phiên bản hình màu do Léon Busy chụp 30 năm sau khi miền Bắc Việt Nam bị đánh chiếm, còn cho ta thấy cái không gian Hà Nội và vùng lân cận, lúc ấy chưa bị chế độ thực dân làm hoàn toàn xáo trộn, hoặc bị tàn phá do chiến tranh, với bao biến đổi chính trị, xã hội, có khi giản đơn chỉ vì đã canh tân trong quy hoạch đô thị hóa. Thiếu sự tiếp giáp bằng hình ảnh, rất nhiều khả năng thế hệ hiện đại, dù là người Việt hay người Pháp, sẽ hoàn toàn xa lạ với cái không gian ấy. 

Mặt khác, phiên bản của Léon Busy buộc ta chú ý vì trình độ mỹ thuật cao. Ông chọn vị trí cẩn thận, khung rất đúng cỡ, tìm tư thế cho nhân vật, dùng ánh sáng thật khéo léo, cho nên ảnh của ông gần giống một tác phẩm nghệ thuật, báo hiệu cho những thành tựu hội họa sau này của các Trường Mỹ thuật vào thập niên 1930. 

Mỗi bức ảnh được chúng tôi quan sát thật kỹ lưỡng, không những cách ghi chép sai trong tựa được chỉnh đốn, mà phần bình luận chú thích còn kế thừa những thành tựu mới nhất của ngành Việt học và sử dụng những tư liệu thật hoàn hảo. 

Có hai đề tài nổi bật: thứ nhất là các ngành nghề từ trước đến nay vẫn tiếp tục làm nhộn nhịp phố phường Hà Nội. Những cảnh sinh hoạt trong đời sống thường nhật thật khó lòng tách khỏi cách ăn mặc, khiến thể hiện rất rõ cách phân loại xã hội qua trang phục. Đề tài thứ nhì liên can tới quan hệ giữa con người và môi trường thiên nhiên, trong ấy thấy rõ sự thờ kính, hoặc cái hài hòa trong cảnh vật, thông qua nhiều khía cạnh tín ngưỡng, tôn giáo.

Rút cuộc, giá trị ảnh màu do Léon Busy chụp thực ra ko phải là ghi lại những gì đã ko còn nữa trong di sản văn hóa, mà chính là chứng minh được một sự tiếp nối hiển nhiên, sau một thế kỷ đầy xáo trộn, của không biết bao nhiêu sắc thái rất Việt Nam.

---
Đây là Lời giới thiệu chung, của triển lãm kính ảnh màu tên là Hình màu Hà Nội (Những sắc màu Hà Nội), tổ chức ở L'Espace đợt cuối 2013 - đầu 2014 vừa rồi. Tiếc là giờ triển lãm đã xong fim rồi, ko thì bà già đã đi lại lần nữa. Đây là triển lãm hay nhất, xuất sắc nhất mà bà già đã xem trong năm qua (cũng có thể là trong cả cuộc đời "bà", từ xưa đến giờ, vì xưa giờ bà già cũng ko thường xuyên đi xem triển lãm cho lắm).

Không bàn đến kỹ thuật chụp, vì bà già Nureng hoàn toàn mù tịt vấn đề này. Bả chỉ thích, trước hết là ảnh và màu sắc - đã tái hiện những khung cảnh xưa hết sức tuyệt vời, với thứ sắc màu mà chỉnh-Instargram-cả-đời-cũng-không-lên-được. Sau nữa, bà già cực cực kỳ thích cách tổ chức cực cực kỳ chuyên nghiệp: rất cẩn trọng, chăm chút và trau chuốt với từng khung hình, từng chú thích. Ấy chỉ riêng cái Lời giới thiệu - đã duyên dáng và nên thơ một cách đáng-ngả-mũ-cúi-đầu như thế kia cơ mà! Nó rất vừa vặn: nói đủ những gì cần nói, trong khi vẫn gợi mở và sâu xa đủ để người đọc biết là à còn những ý tứ như thế như thế.

Bà già ước gì mình cũng viết đc gớm ghê như vầy.

[Bà già có chụp lại vài tấm hình để lưu giữ, không cần post lên đây vì đương nhiên hình bà chụp chả ra gì cả. Chỉ type lại cái Lời nói đầu, à quên, Lời giới thiệu chung - cho thấm thía.]



Friday, August 3, 2012

Những cây cầu ở quận Madison

1.
Bữa ấy, chúng tôi lang thang. Rốn tặng tôi cuốn sách này cho sinh nhựt. Cảm ơn bạn.

2.
Tôi dành một buổi tối chui trong bếp đọc hết cuốn sách nhỏ. Có tí sụt sịt. Tôi nghĩ, nếu vớ đc nó vào một thời điểm 'trai trẻ' khác, dễ tôi khóc như mưa.

Tôi thích không khí "rất Nga" như ánh trăng bàng bạc trong câu chuyện. Anh - tôi, Chị - tôi. Tình cảm trong sáng, và không gì khác ngoài tình cảm. Không trách nhiệm, không ràng buộc. Nó làm tôi nhớ tới Giamillia.

Nhưng Francesca rất tỉnh. Chị không bỏ đi theo Robert. Và tôi thích kết cục ấy. Chuyện tình của họ có lẽ sẽ không bất tử nếu họ bỏ đi cùng nhau. Thế đấy.

Dẫu cho những tháng năm về sau có nhớ thương mòn mỏi, thậm chí cả sợ hãi đối diện, thì tôi vẫn tin họ không tiếc cho sự hạnh ngộ ấy. Nghĩa là nếu có sống lại một trăm cuộc đời, vẫn muốn một trăm lần gặp gỡ như thế. Dẫu chỉ là vài ngày đếm chưa đầy một bàn tay, trong ngàn vạn ngày của một đời.

3.
Tôi ko chèn bất cứ cái hình nào của những cây cầu ở Madison vào đây. Quá xấu so với quy định. Đọc mà xem Robert đã chụp tuyệt vời ntn!

Đấy cũng là lí do tại sao tôi luôn luôn rất sợ xem phim chuyển thể từ tác phẩm văn học. Với truyện, nhân vật ấy hiên lên, là một dáng vóc, mái tóc, nét cười... có thể tưởng tượng đc từng thứ, nhưg ko bao giờ có cảm giác nhìn rõ ràng rành rành con người ấy là như thế. Luôn luôn trong tình trạng lơ mơ lửng lơ với những tưởng tượng, ảo tưởng...

Với phim, nhân vật ấy cộp dấu trong hình dung rõ ràng của một diễn viên, trong chi tiết và hành động dưới sự chỉ đạo của đạo diễn. Nói cách khác, câu chuyện đã đc lọc qua mắt nhìn của đạo diễn và mình đang nhìn bằng cái nhìn của ông ta. Phúc tổ 70 đời nếu ông đạo diễn ấy hợp gu với mình. Bằng ko, mìh sẽ thấy tuyệt vọng vô đối.

4.
Những trích dẫn dưới đây là những chi tiết đẹp cực kỳ đẹp trong mắt tôi, hay những điều đúng kiểu "it's amazing how u can speak right to my heart" (đấy cũng là lí do vì sao câu chuyện này làm tôi liên tưởng đến khúc ca ấy). Cảm ơn sự đồng cảm, Francesca và Kincaid!

--
It's clear to me now that I've been moving toward you and you toward me for a long time. Though neither of us was aware of the other before we met, there was a kind of mindless certainty humming blithely along beneath our ignorance that ensured we would come together. Like two solitary birds flying the great prairies by celestial reckoning, all of these years and lifetimes we have been moving toward one another.

*

- It's called Roseman Bridge, - Said Francesca over the noise of the wind and tires and engine. Her voice sounded strange, as if it belonged to someone else, to a teenage girl leanin out of a window in Naples, lookin far down city streets toward the trains or out at the harbor and thinking of distant lovers yet to come.
*

- ... How do u like it here in Iowa?

There was a moment of truth in this. She knew it. The standard reply was, "Just fine. It's quite. The people are real nice."

She didn't answer immediately.

- Could I have another cigarette?

Again the pack of Camels, again the lighter, again touching his hand, lightly. Sunlight walked across the back porch floor and onto the dog, who got up and moved out of sight. Francesca, for the first time, looked into the eyes of Robert Kincaid.

- I'm supposed to say, 'Just fine. It's quiet. The people are real nice.' All of that's true, mostly. It's quiet. and the people are nice, in certain ways. We all help each other out. If someone gets sick or hurt, the neighbors pitch in and pick corn or harvest oats or do whatever needs to be done. In town, you can leave your car unlocked and let your children run without worrying 'bout the people here, and I respect them for those qualities.

- But - she hesitated, smoked, looked across the table at Robert Kincaid. - It's not what I dreamed 'bout as a girl.

*

"The old dreams were good dreams; they didn't work out, but I'm glad I had them."

*

"I don't just take things as given; I try to make them into something that reflects my personal consciousness, my spirit. I try to find the poetry in the imagine. The magazine has its own style and demands, and I dont always agree with the editors' taste; in fact, most of the time I don't. And that bothers them, even though they decide what goes in and what gets left out. I guess they know their readership, but I wish they'd take a few more chances now and then. I tell them that, and it bothers them.

'That's the problem in earning a living through an art form. U're always dealing with markets, and markets - mass markets - are designed to suit average tastes. That's where the numbers are. That's the reality, I guess'...

Sometime I'm goin to do an essay called 'The Virtues of Amateurism' for all of those people who wish they earned their living in the arts. The market kills more artistic passion than anything else. It's a world of safety out there, for most people. They want safety, the magazines and manufactures give them safety, give them homogeneity, give them the familiar and comfortable, don't challenge them.

Profit & subscriptions and the rest of that stuff dominate art. We're all getting lashed to the great wheel of uniformity.

*

- I call that 'bounce' - Robert Kincaid said, pointin upward. - Most people put their cameras away too soon. After the sun goes down, there's often a period of really nice light & color in the sky, just for a few minutes, when the sun is below the horizon but bounces its light off the sky.

*
... They would live with those attitudes all their lives. That's what discouraged her, knowing that, and she felt compromised and alone, in spite of the outward friendliness of the community. Poets were not welcome here. The people of Madison County liked to say, compensating for their own self-imposed sense of cultural inferiority, "This is a good place to raise kids." And she always felt like responding, "But is it a good place to raise adults?"

*

"In a universe of ambiguity, this kind of certainty comes only once, and never again, no matter how many lifetimes u live.".

---

Các trích dẫn này lấy từ Ebook tiếng Anh, bản pdf ở đây.

Thursday, June 28, 2012

Trái tim có nhiều ngăn hơn ta tưởng

[Tôi bị yêu bài này quá đáng quá thể nên lại vật vã type về đây. Một trong những bài ấn tượng nhất của chị Tháng Giêng - Ngô Thị Phú Bình. Nó đơn giản mà sâu sắc, cô đọng mà giàu hình ảnh hơn cả mấy nghìn từ của tôi!]

Bài này đăng lâu lắm rồi, tuốt từ 2006. Hoa Học Trò 643.

---
Trái tim có nhiều ngăn hơn ta tưởng - Ngô Thị Phú Bình

Bạn sẽ luôn ngạc nhiên về sức chứa của trái tim mình. Luôn có những ngăn bí mật mới hằng ngày mở ra cánh cửa nhỏ, đón nhận những cảm xúc mới mẻ tinh khôi, dành cho những người mới bước vào cuộc sống bạn.

Giống như một lúc nào đó, bất ngờ bạn fát hiện ra chiếc ba lô vẫn nảy trên lưng bạn theo nhịp chạy lên cầu thang hóa ra vẫn còn một ngăn bí mât. Bạn ồ lên thích thú! Và chắc chắn bạn chẳng bao giờ để cái ngăn đó trống rỗng. Bạn sẽ đặt vào đó một chiếc lá đỏ bạn nhặt trước cửa lớp khi mùa chia tay sắp đến. Một tấm thiệp vô danh mà bạn nhận đc vào ngày Valentine vừa rồi. Cuốn lưu bút mà bạn chuẩn bị đưa cho khắp lũ bạn trong lớp!

Bạn sẽ luôn ngạc nhiên về sức chứa của trái tim mình! Nó đã từng đựng trong mình tình yêu dành cho nụ cười của cha. Vòng tay của mẹ. Cho cả những trò nghịch ngợm của các anh chị em. Cho ngõ nhỏ thân thương dẫn vào ngôi nhà nhỏ của gia đình bạn. Nó lại chứa đựng thêm cả lũ bạn chia nhau bộ đồ chơi xếp hình hồi mẫu giáo. Cả lũ bạn cấp 1 nhí nhoáy, cấp 2 lỡ cỡ những chuyện của hội mới dậy thì...

Rồi ngày bạn mới vào lớp 10, nhìn thấy 50 gương mặt lạ hoắc. Bạn lo lắng tự hỏi có thể yêu quý ngần này "kẻ xa lạ" được chăng! Bạn lo lắng "50 kẻ xa lạ" này sẽ khiến bạn quên mất lũ bạn thân thương hồi lớp 9. Nhưng hóa ra ko fải, trái tim của bạn đã làm bạn ngạc nhiên về sức chứa của nó. Bạn có thể yêu quý tràn đầy thêm 50 người bạn mới. Thêm một hội thân ở lớp học thêm. Thêm cả thầy dạy toán thật hay. Cô dạy Sử hay cười. Bác bảo vệ nghiêm khắc, âm thầm và hồn hậu. Yêu cả cái góc hành lang lộng gió của lớp mới. Cả cây bàng non choẹt mà đứa bạn trước khi đi du học đã trồng vào cái bồn cây bỏ trống, sau này đã thành "cây cưng" của cả lớp... Dường như trái tim đủ sức chứa cả đêm Dạ hội Trưởng thành của các anh chị lớp 12 năm ngoái, trong ánh đèn màu giăng khắp trường như sao, bạn đi tìm một người, và chợt giật mình khi nghe người ấy gọi bạn nhẹ nhàng từ sau lưng...

Bạn sẽ ngạc nhiên sao mình có thể yêu nhiều đến như thế! Dường như trái tim bạn ko fải chỉ có bốn ngăn, mà là một cái cây đang lớn, mở rộng tán lá xanh tươi của mình cho tất cả những giọt mưa rơi xuống, những làn gió bay qua, những bóng nắng lung linh nhảy múa! Rung rinh xao động!

Bởi vậy, bạn ơi, đừng lo chúng mình sẽ quên nhau, khi mùa chia tay tới! Bạn là một chiếc lá xanh tươi của trái tim tôi! Với cuộc sống còn dài phía trước, bạn hãy cứ nhiệt thành yêu quý những người bạn mới, những ngôi trường mới, những đồng nghiệp mới... Tôi chẳng bao giờ sợ bạn quên tôi đâu. Bởi tôi biết sức chứa của trái tim bạn là vô tận. Có thể bao nhiêu bận bịu lo toan của thế giới người lớn sẽ cuốn chúng ta đi. Bạn chẳng thể gặp gỡ, thậm chí gọi điện cho tôi mỗi ngày. Nhưng chỉ cần đôi khi nghĩ đến tôi và mỉm cười, chiếc lá của tôi trong trái tim bạn sẽ chẳng bao giờ rụng xuống, sẽ mãi xanh tươi... và chúng ta sẽ là bạn của nhau, bây giờ và mãi mãi!



Thursday, February 9, 2012

"Thật-hơn-một-con-rồng"

Đây là một bài viết mìh đọc đc và mìh thích nó tới nỗi muốn chép tay, scan rồi post lên đây :">. Nhưng chữ mìh tệ ko thể tả nên mìh gõ lại = máy. Mong là bạn thích.


Đã qua mất rồi bao cơ hội được yêu
[Tản văn của Phạm Lữ Ân]

... Vì những thứ tầm thường ta đổi bao điều vô giá
Đổi cô đơn lấy những cuộc gặp gỡ chẳng cần chi
Đổi chiếc hôn lấy tiếng cười đùa trống rỗng
Đổi nỗi dịu êm lấy những phút hội hè
Đã qua mất rồi bao cơ hội được yêu
Làm sao kéo về dù chỉ một vầng trăng đã lặn...
Tiếng cu gù - BLAGA DIMITROVA


Vừa rồi, chúng tôi có dịp gặp lại một cô bạn cũ thời sinh viên. Đó là một cô gái xinh xắn, mơ mộng và thân thiện. Tôi còn nhớ ngày trước, đám con trai, và cả con gái, đã từng ngồi với nhau nhiều lần ở một quán nước mía và đoán xem cô yêu anh chàng nào trong lớp.
Cô luôn có vẻ gần gũi và dành ánh mắt ấm áp, tươi vui cho một vài người đặc biệt, như thể cô đang yêu thầm ai đó trong số họ. Nhưng khi một rồi hai, và ba, tất cả những anh chàng "tự tin rằng mình chính là người ấy" lần lượt mạnh dạn tỏ tình, thì cô đều lắc đầu với nụ cười dễ thương, thậm chí... tỏ vẻ hối lỗi vì đã để chúng tôi hiểu lầm. Chúng tôi đã thực sự hiểu lầm. Kể từ khi ấy, ánh mắt thi thoảng đầy vẻ trìu mến của cô trở thành một bí ẩn lớn với cánh con trai.

Nhiều năm đã trôi qua, và khi gặp lại cô trong buổi họp lớp, một anh bạn "từng tưởng mình là người ấy" đã ko thể ngăn mình đặt câu hỏi, với cô: "Những ngày đó, có fải là bạn đã thầm yêu ai chăng?"

Tất cả chúng ta đều đã trưởng thành, có thể đếm đời mình bằng nhiều kinh nghiệm, cả hạnh phúc và buồn đau. Vì thế dường như thật ngượng ngùng khi nhận ra lòng ta vân thấp thỏm với một câu hỏi tưởng chừng chẳng liên quan gì đến cuộc sống của mình hiện tại. Thậm chí, chẳng giúp gì được cho những ngày tháng đã qua. Nhưng nó ở đó, từ thuở ta còn khờ khạo, một câu hỏi tò mò đến ngây thơ. Và dù sao đi nữa, nó cũng chứng tỏ rằng mình xứng đáng để được đặt ra. Bởi câu trả lời chúng tôi nhận được thật lạ lùng:

"Phải, - cô bạn mỉm cười, - tôi đã yêu. Trong suốt những năm tháng đó..."


"Nhưng...?" - Chúng tôi ngạc nhiên.

"Nhưng, khi ấy, tôi đã yêu bạn theo cách người ta yêu... những thần tượng. Và thật may, tôi đã nhận ra điều đó trước cả khi bạn ngỏ lời."

Như một viên sỏi ném xuống mặt ao tĩnh lặng, câu hỏi: "Chúng ta đã yêu thần tượng của mình theo cách nào?" như làm lan ra từng vòng sóng trong mỗi chúng tôi.

Nếu thần tượng của chúng ta là một con người thật, hiện hữu... thì con người thật ấy phải chăng sẽ là bộ xương của con người mà ta gọi là thần tượng. Chỉ là bộ xương thôi. Phần còn lại, da thịt, hồn vía của thần tượng là do chính chúng ta tạo ra. Nó giống như một phép toán: A => B. Rồi A+B=C. A là con người đó. B là những gì ta nghĩ rằng người ấy theo suy luận đơn giản về sự hoàn hảo thì phải có. C là con người mà ta yêu.

Chúng ta bồi đắp vào bộ xương đó những thứ mà ta cho là tương hợp với người ấy, theo tiêu chuẩn và lý tưởng riêng của chính ta. Như kiểu: với nụ cười tươi như vậy, hẳn đó là người cởi mở và hào phóng. Một người nói những câu hay ho dường ấy, hẳn phải là một người sâu sắc. Người có ngón đàn tuyệt vời thế kia, chắc fải sở hữu một tâm hồn bay bổng. Khi chưa biết rõ họ thực sự có những điều đó hay ko, chúng ta cứ gán thêm cho chác ăn. Vì nhu cầu của bản thân ta, ko fải của họ.

Những thần tượng dường như đã đc tạo ra theo cách đó. Thoạt tiên, chúng ta nhìn thấy một người với tài năng/vẻ đẹp/sự hiểu biết/lòng tốt... Và chúng ta nghiễm nhiên nghĩ rằng họ cũng có lòng tốt/sự hiểu biết/vẻ đẹp/tài năng...


Kiểu suy luận đó là một cái bẫy. Con người, vốn là một sinh vật chứa đầy những thứ tưởng như ko tương hợp. Ví như khi bạn nhìn khuôn mặt khó ưa của tôi, bạn ko thể nghĩ tôi là một người hài hước. Vẻ mặt khó ưa chỉ là một cái bẫy.

Mà cuộc đời thì đầy rẫy những cái bẫy. Tôi có thể chép ra đây một trăm câu danh ngôn thật hay mà bạn chưa từng biết. Nếu bạn nhìn vào đó và nghĩ là tôi sâu sắc hơn bạn, vậy là bạn dính bẫy. Nếu bạn chỉ cho rằng có lẽ tôi đọc nhiều hơn bạn, bạn thoát khỏi chiếc bẫy. Còn nếu bạn nhận ra được "sự thật trần trụi" rằng tôi chỉ tình cờ (hay thậm chí, cố ý) đọc được những câu đó... trước bạn, tức là bạn đủ tỉnh táo để nhìn ra chiếc bẫy.

Tôi tin ai cũng từng có một thần tượng. Cho dù chỉ có một hay nhiều, ngắn hạn hay dài hạn. Điều khác nhau là chúng ta làm gì với thần tượng của mình. Chúng ta ngưỡng mộ và học hỏi người đó hay cố xây đắp để biến họ thành một thần tượng hoàn hảo theo nhu cầu riêng của mình? Để rồi sau đó thất vọng.

Đôi khi, chúng ta tìm đc một bộ xương khủng long nhưng cứ loay hoay tìm cách đổi nó để lấy một con rồng. Cũng như cô bạn tôi. Cô đã rung động trước một anh bạn học giỏi, tốt bụng và dễ dàng gắn thêm cho người đó sự lãng mạn, tế nhị... Cô gần như đã tạo ra một người ảo bao bọc bên ngoài con người thật, và cô yêu con người ảo đó. Con người mà cô tạo ra, cho chính cô. Và cô yêu, chỉ cho chính cô mà thôi. Thật may - cô nói - là khi con người thật ngỏ lời với cô, thì cô đã nhận ra rằng đó ko chính xác là người mình yêu. Đó chỉ là một bộ cương. Cốt lõi, quan trọng, nhưng vẫn chỉ là bộ xương.

Bạn có muốn đc yêu theo cách người ta yêu một thần tượng? Anh bạn tôi thì ko. Anh nói: "Trong vài trường hợp, chẳng may mắn gì khi bị biến thàn thần tượng. Vì điều đó có nghĩa là ta đang thực sự đánh mất cơ hội đc yêu bởi chính con người thật của mình."

Kinh nghiệm ấy mới đáng buồn làm sao. Với cô bạn tôi cũng vậy. Khi đã biết rằng mình yêu một con rồng, thậm chí là ảo ảnh về một con rồng, người ta sẽ chẳng thèm để mắt đến bộ xương khủng long nữa. Nhưng tệ nhất là nó khiến họ quên mất điều vô cùng quan trọng: một bộ xương khủng long cũng là thứ hiếm có và đáng chiêm ngưỡng. Hơn thế nữa, nó thật hơn một con rồng.

Nhưng khi nhận ra điều đó, thì "đã qua mất rồi bao cơ hội được yêu..."